• :
  • :
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Đắk Lắk tìm động lực bứt phá cho tăng trưởng hai con số

Đắk Lắk đặt trọng tâm vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để nâng sức cạnh tranh, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Biến lợi thế không gian thành sức cạnh tranh

Ngày 6/10, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk tổ chức hội thảo khoa học “Mô hình tăng trưởng mới cho Đắk Lắk sau hợp nhất: Tái cơ cấu kinh tế và bứt phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Hội thảo có sự tham dự của bà Huỳnh Thị Chiến Hòa, Phó Bí thư Tỉnh ủy; ông Y Nhuân Byă, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cùng các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp.

Hội thảo khoa học mô hình tăng trưởng mới cho Đắk Lắk sau hợp nhất.

Hội thảo khoa học mô hình tăng trưởng mới cho Đắk Lắk sau hợp nhất.

Phát biểu tại hội thảo, ông Y Nhuân Byă nhấn mạnh, không gian phát triển mới chưa tự tạo ra mô hình tăng trưởng mới. Để chuyển hóa tiềm năng, lợi thế thành giá trị cụ thể, Đắk Lắk cần tư duy mới, cách làm mới và sự tham gia của nhiều chủ thể.

Sau hợp nhất, tỉnh có điều kiện kết nối cao nguyên với duyên hải, rừng với biển, vùng nguyên liệu với chế biến, logistics, dịch vụ và du lịch. Những sản phẩm chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, cao su cùng cá ngừ, tôm hùm ở vùng ven biển tạo nền tảng phát triển chuỗi giá trị nông, lâm, thủy sản quy mô lớn. Tuy nhiên, ông Y Nhuân Byă cho rằng, không gian lớn hơn chỉ trở thành lợi thế khi được tổ chức, kết nối và khai thác hiệu quả. Tiềm năng cần được hỗ trợ bằng thể chế phù hợp, hạ tầng đồng bộ, nhân lực chất lượng cao và năng lực quản trị đủ mạnh.

Năm 2026, Đắk Lắk đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 10,02%, kinh tế số chiếm 14% GRDP; giai đoạn 2026–2030 phấn đấu tăng trưởng bình quân 11%/năm. Để đạt mục tiêu, tỉnh phải chuyển biến rõ về năng suất, giá trị gia tăng và chất lượng tăng trưởng.

Ông Y Nhuân Byă, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk phát biểu tại hội thảo.

Ông Y Nhuân Byă, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk phát biểu tại hội thảo.

Theo ông Bùi Thanh Toàn, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk, địa phương còn nhiều điểm nghẽn: Hạ tầng kết nối chưa đồng bộ, nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các ngành mới, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ. Năng lực chế biến sâu, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết chuỗi giá trị cũng còn hạn chế.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh đã công bố, triển khai 8 bài toán lớn; thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo; xây dựng Đề án phát triển kinh tế số giai đoạn 2026–2030, định hướng đến năm 2045. Các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ, nâng cao năng suất, chất lượng được thúc đẩy.

Tỉnh đồng thời đặt hàng nhiệm vụ đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Theo ông Y Nhuân Byă, khoa học và công nghệ đang từng bước chuyển từ “nghiên cứu” sang “giải quyết bài toán”, từ “hỗ trợ” sang “tạo năng lực cạnh tranh”, từ “ý tưởng” sang “sản phẩm và thị trường”.

Đối với nông nghiệp, tỉnh cần giải pháp về giống, sản xuất thông minh, dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu. Với công nghiệp, logistics, yêu cầu đặt ra là hình thành chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến, lưu thông và thị trường, đưa lợi thế sản xuất thành giá trị thương mại.

Kết nối công nghệ, logistics và thị trường

Tại hội thảo, TS Nguyễn Thị Thu Quỳnh, Trưởng nhóm Nghiên cứu mạnh Kinh tế và Quản lý tài nguyên môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược để tạo năng lực phát triển mới cho Đắk Lắk.

Một tham luận chỉ ra các rào cản phát triển tại hội thảo.

Một tham luận chỉ ra các rào cản phát triển tại hội thảo.

Về thể chế và không gian phát triển, TS Quỳnh đề xuất nghiên cứu thiết lập khu thương mại tự do, cơ chế hải quan một cửa và chính sách đủ sức cạnh tranh để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiến lược, nhất là dự án công nghệ cao.

Nhóm giải pháp tiếp theo là tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, gắn với bài toán của doanh nghiệp, sản xuất và quản trị địa phương. Công nghệ cần phục vụ trực tiếp việc nâng năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động.

Cùng với đó, địa phương cần chuyển đổi sản xuất theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tổ chức lại vùng sản xuất, vùng trồng theo hướng tập trung. Việc hình thành vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu thị trường phải gắn với nâng cao chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Đáng chú ý, TS Nguyễn Thị Thu Quỳnh đề xuất đầu tư hạ tầng logistics nhằm giảm chi phí vận tải, rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa. Trong không gian kết nối cao nguyên và duyên hải, logistics cần được xem là hạ tầng chiến lược, nối vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến với thị trường.

Nhóm giải pháp tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực số và mô hình “đại sứ số”, với lực lượng nòng cốt là sinh viên, thanh niên. Đây là nguồn lực hỗ trợ ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số tại địa phương.

Ở góc độ quản trị, TS Nguyễn Thanh Giang, Viện Lãnh đạo học và Hành chính công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng, thu gọn bộ máy không có nghĩa là thu nhỏ năng lực. Bộ máy càng gọn, yêu cầu về quản trị, phối hợp và thực thi càng cao. Ông Giang nhận định, hợp nhất địa giới là một thời điểm, nhưng hợp nhất năng lực phát triển là cả một quá trình. Giá trị lớn nhất sau hợp nhất là hình thành năng lực kết nối nguồn lực, trí tuệ, công nghệ và doanh nghiệp, đưa khoa học vào sản xuất, kinh doanh.

Để thúc đẩy quá trình này, ông Y Nhuân Byă nhấn mạnh vai trò liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Nhà nước tạo môi trường, hoàn thiện thể chế, đặt đúng bài toán; nhà khoa học cung cấp tri thức, giải pháp; doanh nghiệp tham gia từ đặt hàng, thử nghiệm đến thương mại hóa.

Trong quản lý nhà nước, tỉnh định hướng xây dựng dữ liệu dùng chung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, số hóa quy trình để nâng chất lượng ra quyết định; đồng thời dùng dữ liệu số phục vụ phát triển sản phẩm du lịch.

Hội thảo nhận được hơn 70 bài tham luận. Kết quả sẽ được Sở Khoa học và Công nghệ tổng hợp, xây dựng báo cáo kiến nghị, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trình UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo, làm cơ sở hoàn thiện chính sách và chương trình phát triển.

Đến năm 2030, Đắk Lắk đặt mục tiêu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp tối thiểu 17,5% vào tăng trưởng GRDP; kinh tế số đạt tối thiểu 30% GRDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) phấn đấu thuộc nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; sóng 5G phủ từ 99% địa bàn trở lên. Các mục tiêu đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức phát triển và quản trị, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh.

Cao Nguyên

Các tin khác

Tin nổi bật