• :
  • :
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Niềm tin quốc tế và phép thử tăng trưởng GDP hai con số

Dự báo lạc quan về tăng trưởng GDP từ các định chế tài chính quốc tế cho thấy sức hấp dẫn của kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực nội sinh.

Triển vọng tăng trưởng được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, những đánh giá tích cực từ các tổ chức tài chính quốc tế đang góp thêm cơ sở để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế (GDP) cao trong năm 2027. Đáng chú ý, Standard Chartered dự báo GDP Việt Nam có thể tăng 11% trong năm 2027, mức cao hơn đáng kể so với nhiều dự báo quốc tế khác.

Hoạt động sản xuất tại Công ty Cổ phần Thiết bị Điện MBT (Hà Nội).

Hoạt động sản xuất tại Công ty Cổ phần Thiết bị Điện MBT (Hà Nội).

Theo báo cáo công bố ngày 30/10/2026, Standard Chartered giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam ở mức 9,5% năm 2026 và 11% năm 2027. Đáng chú ý, tổ chức này nâng dự báo tăng trưởng năm 2028 từ 6,7% lên 9,1%. Đây là điều chỉnh đáng kể, cho thấy kỳ vọng vào khả năng duy trì đà tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam trong trung hạn.

Ông Tim Leelahaphan, chuyên gia kinh tế cấp cao phụ trách Việt Nam và Thái Lan tại Standard Chartered, cho rằng cam kết thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2027, cùng các chính sách hỗ trợ nền kinh tế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tích cực và nhu cầu tiêu dùng, đầu tư trong nước gia tăng sẽ tiếp tục tạo động lực cho tăng trưởng của Việt Nam.

Không chỉ Standard Chartered, nhiều định chế tài chính quốc tế khác cũng duy trì đánh giá khả quan về kinh tế Việt Nam. Theo Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 10/2026, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo GDP Việt Nam tăng 8,4% trong năm 2026 và 7,5% năm 2027. Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), UOB và AMRO cũng ghi nhận những triển vọng tích cực của nền kinh tế.

Sự khác biệt về mức dự báo giữa các tổ chức cho thấy cách tiếp cận và giả định về các động lực tăng trưởng không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, điểm chung là Việt Nam vẫn được nhìn nhận là một nền kinh tế có sức hấp dẫn, khả năng thích ứng và dư địa phát triển trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc.

Những đánh giá này không chỉ đến từ tốc độ tăng trưởng trước mắt. IMF ghi nhận nền tảng tài chính của Việt Nam tương đối vững, nợ công ở ngưỡng an toàn, cán cân đối ngoại cải thiện và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài ngày càng tốt hơn. Theo dự báo trong báo cáo tháng 10/2026, tỷ lệ nợ công năm 2026 ở mức 28,3% GDP, thuộc nhóm 20 nền kinh tế có tỷ lệ nợ công thấp nhất thế giới.

Ở góc độ dài hạn, World Bank đánh giá cao định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động. ADB cũng nhìn nhận xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng đang mở ra cơ hội cho Việt Nam trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, công nghệ cao và năng lượng xanh.

Đây là những động lực có ý nghĩa quan trọng, nhất là khi Việt Nam đang cần chuyển từ lợi thế về chi phí và quy mô sản xuất sang năng lực tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Cải cách thể chế, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị sẽ quyết định khả năng biến cơ hội thu hút đầu tư thành năng lực sản xuất thực chất của nền kinh tế.

Mục tiêu tăng trưởng từ 10%: Cần chuyển hóa niềm tin thành năng lực thực tế

Những đánh giá tích cực từ các tổ chức quốc tế xuất hiện trong thời điểm Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2027. Đây là mục tiêu thể hiện quyết tâm tạo bước chuyển mạnh về quy mô và chất lượng phát triển, đồng thời tạo đà cho những năm tiếp theo. Tuy nhiên, giữa dự báo tăng trưởng và khả năng hiện thực hóa mục tiêu vẫn có một khoảng cách cần được nhìn nhận thẳng thắn.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho rằng mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 có cơ sở để phấn đấu, nhưng là thách thức rất lớn. Điều kiện quan trọng không chỉ nằm ở khả năng huy động thêm vốn mà còn ở việc cải thiện năng lực sản xuất, hiệu quả đầu tư và năng suất của toàn nền kinh tế.

Theo ông, kết quả tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt 9,01%, riêng quý III đạt 9,95%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp gần 50% vào tăng trưởng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 15,1%. Những con số này cho thấy đầu tư và sản xuất công nghiệp đang trở thành động lực quan trọng. Tuy nhiên, tăng trưởng trên nền cao của năm trước sẽ khó khăn hơn. Rủi ro từ thương mại quốc tế, giá năng lượng, tỷ giá và điều kiện tài chính toàn cầu vẫn có thể tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam.

TS. Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh ba điều kiện then chốt. Trước hết, cần duy trì tốc độ tăng trưởng đầu tư nhưng phải cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. Đầu tư công nên tập trung vào những công trình có khả năng tháo gỡ điểm nghẽn về giao thông, năng lượng và logistics, tạo hiệu ứng lan tỏa đối với đầu tư tư nhân.

Tiếp đó, cần hình thành động lực tăng trưởng mới từ phía cung, đặc biệt là nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và gia tăng giá trị sản xuất trong nước. Cùng với đó, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là yêu cầu không thể xem nhẹ. Tăng trưởng cao không nên đánh đổi bằng việc nới lỏng tiền tệ quá mức, làm gia tăng rủi ro lạm phát, tỷ giá và nợ xấu.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 10 tháng năm 2026, lần đầu tiên xuất nhập khẩu của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, cho thấy quy mô và năng lực hội nhập của nền kinh tế tiếp tục được mở rộng.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 10 tháng năm 2026, lần đầu tiên xuất nhập khẩu của Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD, cho thấy quy mô và năng lực hội nhập của nền kinh tế tiếp tục được mở rộng.

Ở góc nhìn khác, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, Việt Nam có cơ sở để kiên định với mục tiêu tăng trưởng hai con số bởi khả năng huy động nguồn lực của nền kinh tế đang được cải thiện. Đặc biệt, quy mô thương mại ngày càng mở rộng cho thấy tiềm năng phát triển còn đáng kể.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), 10 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu tiên thương mại hàng hóa Việt Nam vượt mốc 1.000 tỷ USD. Tuy nhiên, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng lưu ý, để đạt tăng trưởng 10%, nhu cầu vốn đầu tư sẽ rất lớn. Vấn đề không chỉ là huy động bao nhiêu vốn mà quan trọng hơn là mỗi đồng vốn tạo ra được bao nhiêu giá trị. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 ở mức 6,43, trong khi mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là giảm xuống 4,5-4,8. Điều đó đòi hỏi đầu tư phải gắn với năng lực sản xuất, nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Nếu các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động, đất đai và quan hệ đối ngoại được kết nối hiệu quả, nền kinh tế sẽ có thêm dư địa để duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

Chất lượng tăng trưởng quyết định khả năng đi đường dài

Một vấn đề đáng chú ý trong các đánh giá quốc tế là bên cạnh triển vọng tích cực, Việt Nam vẫn cần giải quyết những điểm nghẽn về năng suất, cơ cấu đầu tư và sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhìn nhận kết quả xuất nhập khẩu vượt 1.000 tỷ USD và sản xuất công nghiệp tăng trưởng cao trong 10 tháng năm 2026 phản ánh sức chống chịu, khả năng thích ứng của nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn cho rằng tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Xuất nhập khẩu là thế mạnh, song cần từng bước giảm sự phụ thuộc vào khu vực doanh nghiệp FDI. Năng suất của nền kinh tế chưa có sự cải thiện mang tính đột phá, trong khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn hạn chế.

Theo TS. Lê Duy Bình, một trong những yêu cầu quan trọng là nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện để khu vực này tham gia sâu hơn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và chuỗi giá trị. Cùng với đó, cần thay đổi cơ chế phân bổ nguồn lực, ưu tiên vốn, đất đai, con người và công nghệ cho những địa phương, lĩnh vực, doanh nghiệp có khả năng sử dụng hiệu quả nhất.

Đây cũng là điểm cần lưu ý khi nhìn vào những dự báo tăng trưởng rất tích cực của các tổ chức quốc tế. Dòng vốn FDI gia tăng, xuất khẩu mở rộng hay đầu tư công tăng tốc đều có thể tạo động lực cho GDP. Nhưng nếu giá trị gia tăng trong nước không được cải thiện tương ứng, tăng trưởng sẽ khó tạo ra nền tảng đủ vững chắc cho giai đoạn tiếp theo.

Ở góc độ điều hành vĩ mô, TS. Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, nhấn mạnh kiểm soát lạm phát là yêu cầu cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027. Theo ông, trong bối cảnh áp lực lạm phát và tín dụng gia tăng, chính sách tiền tệ không nên mở rộng đại trà mà cần hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, hạn chế dòng tiền chảy vào các kênh đầu cơ. Đồng thời, cần kiểm soát tỷ giá, linh hoạt sử dụng các công cụ điều tiết tiền tệ để vừa hỗ trợ doanh nghiệp vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô.

Về phía chính sách tài khóa, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công đối với những dự án đã sẵn sàng, có khả năng lan tỏa sẽ góp phần kích hoạt đầu tư tư nhân, tạo thêm đơn hàng cho các ngành xây dựng, vật liệu, cơ khí, logistics và dịch vụ. Kích cầu tiêu dùng trong nước cũng cần được quan tâm để mở rộng tổng cầu, hỗ trợ doanh nghiệp tăng sản xuất và tạo việc làm.

TS. Huỳnh Thanh Điền cho rằng, về dài hạn, muốn duy trì tăng trưởng hai con số cần tái cơ cấu nền kinh tế, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Cải cách thể chế cũng cần được đẩy mạnh, chuyển từ tư duy xây dựng pháp luật thiên về quản lý sang kiến tạo phát triển, giảm chi phí tuân thủ và tạo thêm dư địa cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Nhìn từ các dự báo quốc tế và nhận định của chuyên gia, Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để đặt mục tiêu tăng trưởng cao. Tuy nhiên, niềm tin của nhà đầu tư và những con số dự báo tích cực chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước và năng suất của toàn nền kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027 vì vậy không chỉ là câu chuyện đạt được một con số GDP. Quan trọng hơn, đó phải là bước chuyển về chất lượng tăng trưởng, trong đó mỗi nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn, khu vực kinh tế trong nước có vai trò lớn hơn và ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững.

Theo Bộ Tài chính, tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, hoạt động sản xuất, kinh doanh duy trì đà tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, đưa mức tăng 10 tháng lên 12,4%; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13%. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) đạt 52,3 điểm, đánh dấu tháng thứ 16 liên tiếp trên ngưỡng 50 điểm. Đáng chú ý, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, đạt hơn 1.010 tỷ USD, tăng 32,3%. Bên cạnh đó, công tác hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và phát triển hạ tầng chiến lược tiếp tục được đẩy mạnh. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế được quan tâm, triển khai đồng bộ.

Nguyễn Hạnh

Các tin khác

Tin nổi bật