Hiệu quả hoạt động của các làng nghề ở An Giang
Tỉnh An Giang có nhiều làng nghề truyền thống, trong đó có những làng nghề tồn tại và phát triển hàng trăm năm, sản phẩm của các làng nghề làm ra được đông đảo khách hàng gần xa ưa chuộng. Nhờ hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị… các cơ sở ngành nghề nông thôn, làng nghề truyền thống đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo của tỉnh.
Bà Nguyễn Thị Minh Thúy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết, tỉnh An Giang mới, được thành lập trên cơ sở sáp nhập tỉnh An Giang và tỉnh Kiên Giang, trong đó huyện Tri Tôn (của tỉnh An Giang cũ) là huyện nghèo của cả nước, sau khi bỏ cấp huyện, Tri Tôn còn lại 5 xã. Nhờ đẩy mạnh phát triển các làng nghề truyền thống đã giúp nâng cao thu nhập cho người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm.
Làng nghề giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, tỉnh An Giang đã vận dụng linh hoạt, lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ, đầu tư khôi phục, duy trì và phát triển các làng nghề, các nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch của địa phương, qua đó đã bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, nhiều nghề, làng nghề đã phát huy giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao thu nhập cho người dân.
Hiện tỉnh An Giang (cũ) có 29 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận đạt tiêu chí “Làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh An Giang”. Trong đó, có 14 làng nghề và 15 làng nghề truyền thống, với gần 4.000 hộ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 12.000 lao động, với mức thu nhập bình quân từ 3 triệu đồng đến 8 triệu đồng/người/tháng. Năm 2024, doanh thu của các làng nghề đạt gần 250 tỷ đồng.
Các HTX, tổ hợp tác đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo của tỉnh. |
Đan cỏ bàng là nghề truyền thống nổi tiếng từ lâu của người dân thị trấn biên giới Ba Chúc (nay là xã Ba Chúc). Không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, nghề đan cỏ bàng còn tạo nên một nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Ba Chúc.
Bà Nguyễn Thị Máy, Tổ trưởng Tổ hợp tác cỏ bàng Ba Chúc cho biết: “Để đảm bảo việc cung cấp đủ hàng cho khách hàng, Tổ hợp tác đã huy động nguồn lực từ các xã lân cận. Những ai có nhu cầu đan thì đến mua cỏ bàng tại Tổ hợp tác mang về đan gia công và bán lại cho Tổ hợp tác với giá 20.000 đồng mỗi cái. Sau đó Tổ hợp tác phân phối cho khách hàng với giá 25 - 40 ngàn đồng/cái. Sau khi giao hàng, khách hàng, doanh nghiệp sẽ làm quai, đáy giỏ, ép khuôn, thêm hoa văn hoàn chỉnh chiếc giỏ rồi xuất khẩu”.
Chị Trần Thị Trang chia sẻ: Từ khi tham gia vào Tổ hợp tác cỏ bàng Ba Chúc, chị được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, cách quản lý và khả năng thiết kế mẫu mã hiện đại, tiên tiến, được tham quan mô hình sản xuất nhiều nơi. Nhờ vậy, năng suất, chất lượng của sản phẩm làm từ cỏ bàng của Tổ hợp tác rất bắt mắt, bán rất chạy.
Hiện tại, chị Trang nhận được nhiều đơn hàng như nệm, nón, giỏ xách, túi thời trang, các loại ví cho nam và nữ... Bình quân mỗi tháng, chị Trang có thu nhập gần 10 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, nhờ thu nhập ổn định, gia đình chị đã ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo.
Phát triển làng nghề gắn với bảo tồn
Theo lãnh đạo xã Ba Chúc cho biết, nhận thấy tiềm năng, lợi thế của cây cỏ bàng, chính quyền địa phương đã hỗ trợ nhân dân thành lập Tổ hợp tác cỏ bàng Ba Chúc nhằm hướng dẫn, dạy nghề đan cỏ bàng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Khi vào Tổ hợp tác, các chị em được hỗ trợ dạy nghề nên biết đan rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng và đã xuất đi nhiều nước ở châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc...
Tất cả các sản phẩm đều được thị trường đón nhận tích cực. Khi tham gia Tổ hợp tác, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và thu nhập của chị em phụ nữ được nâng lên đáng kể.
Những năm gần đây, cuộc sống của nhiều người dân đã bước sang một trang mới nhờ nghề đan cỏ bàng. Với những cách làm mới, hiệu quả, Tổ hợp tác đã góp phần giúp người dân xứ Ba Chúc và nhiều người dân làng nghề truyền thống nơi đây đã thay đổi tư duy phát triển làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn, nhất là người nghèo, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
![]() |
Các làng nghề truyền thống đã tạo sinh kế, việc làm, thu nhập bền vững cho hộ nghèo, cận nghèo. |
Cũng theo lãnh đạo xã Ba Chúc, với việc phát triển mạnh mẽ các HTX, tổ hợp tác trên địa bàn thì vai trò của Liên minh HTX tỉnh cũng rất lớn. Đặc biệt trong những năm qua, Liên minh HTX tỉnh An Giang, Trường Trung cấp nghề và Đào tạo cán bộ Hợp tác xã miền Nam, Liên minh HTX Việt Nam đã thường xuyên khai giảng các lớp đào tạo nghề như: nghề làm đường thốt nốt, nghề đan lát, nghề gốm, nghề trồng nấm…
Trong năm 2024, Liên minh HTX tỉnh phối hợp cùng Trường Trung cấp nghề và Đào tạo cán bộ Hợp tác xã miền Nam tổ chức khai giảng 5 lớp đào tạo nghề cho 200 học viên là người dân và thành viên các HTX trên địa bàn. Thạc sĩ Đỗ Thị Thu Thủy, giáo viên Trường Trung cấp nghề và Đào tạo cán bộ Hợp tác xã miền Nam cho biết, việc đào tạo được thực hiện kết hợp lý thuyết, thực hành, hướng dẫn “cầm tay chỉ việc”. Sau đào tạo, kiến thức bà con nâng lên rõ rệt, tránh nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất. Qua đó nâng cao năng suất, ổn định thu nhập và đặc biệt xây dựng đội ngũ kế thừa nghề truyền thống, góp phần gìn giữ nét văn hóa địa phương, bảo tồn văn hóa làng nghề.
Tạo sinh kế bền vững
Bà Nguyễn Thị Minh Thúy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho hay, những năm gần đây, An Giang có thêm nhiều làng nghề mới sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc trưng được khách du lịch ưa chuộng và xuất khẩu được làm từ nguyên liệu sẵn có tại địa phương như nghề dệt chiếu Uzu, thị xã Tân Châu, mỹ nghệ tre bông, tranh lá thốt nốt, thắt bính lục bình,... đã luôn thu hút, hấp dẫn du khách thập phương.
Cùng với sự phát triển của xã hội, làng nghề ngày nay không chỉ mang đặc trưng cơ bản trong truyền thống kinh tế, mà còn thu hút khách du lịch. Khai thác và phát huy các làng nghề truyền thống theo hướng du lịch mang đến “hiệu quả kép”: vừa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề, vừa mang lại lợi ích kinh tế - xã hội.
Các cơ sở ngành nghề nông thôn đã tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân, góp phần thúc đẩy công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở địa phương. Nhiều hộ gia đình đã tham gia HTX, tổ hợp tác, từ hộ nghèo đã vươn lên làm giàu, ổn định cuộc sống.
Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo trên 5 xã của huyện Tri Tôn cũ đã giảm dần hằng năm, cụ thể năm 2020 có 1.938 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 3,65% so với tổng dân số, đến cuối năm 2024 giảm còn khoảng 600 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 1,16%, hộ cận nghèo còn khoảng 2.000 hộ chiếm 4,01%.
“Thời gian tới, An Giang sẽ hỗ trợ xây dựng, nhân rộng các làng nghề truyền thống nhằm tạo sinh kế, việc làm, thu nhập bền vững cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; người dân sinh sống ở các xã nghèo. Cùng với sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi của các cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ sở hạ tầng và đời sống đồng bào các dân tộc tỉnh An Giang đã thay đổi đáng kể. Đây là động lực, là niềm tin để An Giang đồng lòng phát triển kinh tế, xã hội, giảm nghèo bền vững xây dựng quê hương ngày càng phát triển”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho hay.
Lê Minh