Rau quả, thủy sản tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,34 tỷ USD, tăng 3% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 35,88 tỷ USD. Trong đó, nhóm nông sản đạt 18,59 tỷ USD; thủy sản đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11,4%; lâm sản đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4,6%; sản phẩm chăn nuôi đạt gần 376 triệu USD, tăng tới 34,6%; nhóm đầu vào sản xuất tăng gần 80%.

Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Ảnh minh họa
Đáng chú ý, rau quả tiếp tục là ngành hàng tăng trưởng nổi bật khi đạt 3,65 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Xuất khẩu sang thị trường này tăng gần 28%, trong khi Hoa Kỳ và Hàn Quốc cũng ghi nhận mức tăng hai con số.
Thủy sản cũng duy trì đà phục hồi tích cực với kim ngạch 5,7 tỷ USD. Trung Quốc vươn lên là thị trường tăng trưởng mạnh nhất, tăng hơn 41%, góp phần bù đắp sự sụt giảm tại thị trường Hoa Kỳ.
Ở nhóm lâm sản, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,54 tỷ USD, tăng 4,4%. Dù Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm gần 50% tổng kim ngạch, xuất khẩu sang thị trường này giảm 8%, trong khi Trung Quốc tăng tới 49%, cho thấy xu hướng đa dạng hóa thị trường đang phát huy hiệu quả.
Một số mặt hàng khác cũng ghi nhận tín hiệu tích cực. Hạt điều đạt 2,39 tỷ USD, tăng 1,6% về giá trị; hạt tiêu đạt gần 946 triệu USD, tăng 11,6%; gạo đạt 5,2 triệu tấn, tăng gần 10% về lượng.
Giá giảm, thị trường phân hóa tạo áp lực cho nhiều ngành hàng
Bên cạnh những điểm sáng, bức tranh xuất khẩu vẫn cho thấy không ít thách thức khi tăng trưởng kim ngạch chưa đi cùng với tăng trưởng giá trị ở nhiều mặt hàng chủ lực. Cà phê là ví dụ điển hình. Trong 6 tháng đầu năm, lượng xuất khẩu tăng gần 10%, đạt 1,1 triệu tấn nhưng kim ngạch chỉ đạt 4,78 tỷ USD, giảm 14,4% do giá xuất khẩu bình quân giảm tới 22% so với cùng kỳ năm trước.
Tương tự, xuất khẩu gạo tăng gần 10% về sản lượng nhưng giá trị lại giảm 2,5%, khi giá xuất khẩu bình quân giảm hơn 11%. Cao su cũng giảm cả về lượng và giá trị xuất khẩu, dù giá bán bình quân nhích tăng gần 4%. Chè tiếp tục gặp khó khăn khi cả sản lượng và giá trị đều giảm so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu tiêu dùng tại một số thị trường truyền thống suy yếu.
Ở góc độ thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu lớn nhất, chiếm 44,4% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Xuất khẩu sang khu vực này tăng 11%, trong khi châu Đại Dương tăng trên 21%.
Theo từng thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất với thị phần 21,3% và mức tăng trưởng lên tới 23,1%. Nhật Bản duy trì tăng nhẹ 1,6%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 3,6%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng chưa phục hồi hoàn toàn và áp lực từ các rào cản thương mại.
Sự phân hóa cũng diễn ra ở từng ngành hàng. Nhiều thị trường mới nổi ghi nhận mức tăng trưởng rất cao như Trung Quốc đối với cà phê, Iraq đối với gạo, Mexico đối với cao su hay Hà Lan đối với gỗ. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang từng bước mở rộng thị trường thay vì phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, kết quả 6 tháng đầu năm cho thấy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động. Tuy nhiên, áp lực giảm giá đối với nhiều mặt hàng chủ lực cùng sự suy giảm tại một số thị trường lớn đặt ra yêu cầu tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tỷ trọng chế biến sâu và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường nhập khẩu nhằm duy trì tăng trưởng bền vững trong những tháng cuối năm.
Cũng theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cán cân thương mại nông, lâm thủy sản tháng 6 năm 2026 ước đạt thặng dư 1,66 tỷ USD, giảm 3,2% so với tháng trước nhưng tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại nông, lâm, thủy sản ước đạt thặng dư 9,2 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước.

