• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thực thi Hiệp định RCEP: Thích ứng với ‘làn sóng’ phòng vệ thương mại

Không chỉ gia tăng về số lượng, điều tra phòng vệ thương mại ngày càng khắt khe, mức thuế cao là thách thức lớn đối với doanh nghiệp trong việc tận dụng Hiệp định RCEP.

“Làn sóng” phòng vệ thương mại gia tăng

Ngày 15/11/2020, RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực) được ký kết giữa 10 nước ASEAN và 5 đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2022. Đến nay, Hiệp định đã có hiệu lực đối với toàn bộ các nước thành viên.

Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đối diện nhiều khó khăn hơn trước

Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đối diện nhiều khó khăn hơn trước "làn sóng" điều tra phòng vệ thương mại. Ảnh: TTXVN

RCEP là Hiệp định thương mại tự do có quy mô lớn nhất đang tham gia, kết nối các nền kinh tế hàng đầu thế giới, đồng thời tạo thuận lợi trong đa dạng hóa nguồn nguyên liệu và phát triển chuỗi cung ứng nhờ áp dụng một bộ quy tắc xuất xứ thống nhất.

Với quy mô chiếm khoảng 30% GDP, dân số và thương mại toàn cầu, RCEP không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Ông Quyền Anh Ngọc - Trưởng phòng ASEAN, Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) thông tin, RCEP giúp Việt Nam thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định, thu hút FDI, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế kinh tế toàn cầu. Tổng kim ngạch của Việt Nam với các nước RCEP năm 2025 đạt 503 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 171 tỷ USD (tăng hơn 30% so với năm 2022).

Tuy nhiên, khoảng cách giữa việc tham gia Hiệp định và khả năng tận dụng hiệu quả các ưu đãi vẫn còn khá lớn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đánh giá của Vụ Chính sách thương mại đa biên, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ RCEP vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của thị trường. Nguyên nhân được chỉ rõ là còn khá nhiều thách thức trong quá trình khai thác cam kết của hiệp định. Trong đó, hiện khoảng 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp do nữ làm chủ vẫn chưa biết đến hiệp định, các nước có xu hướng chuyển sang biện pháp phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước khi thuế quan đã cắt giảm.

Đặc biệt, xu hướng điều tra phòng vệ thương mại gia tăng đang đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp trong quá trình tận dụng các ưu đãi từ hiệp định. Theo bà Nguyễn Hằng Nga, Phòng xử lý Phòng vệ thương mại nước ngoài, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), phòng vệ thương mại là công cụ hợp pháp và có nhiều ưu thế so với các công cụ thuế quan khác (mức thuế có thể áp dụng cao, thời gian dài, áp dụng với đối tượng cụ thể, điều chỉnh khi rà soát…); một số nước bị áp thuế phòng vệ thương mại tìm cách lẩn tránh thuế qua nước thứ ba.

Về tình hình điều tra phòng vệ thương mại trong RCEP, tính đến hết tháng 5/2026, đã có 87 vụ. ASEAN là thị trường điều tra phòng vệ thương mại tích cực nhất với hàng xuất khẩu Việt Nam với 59 vụ việc (chiếm 68% tổng số vụ việc trong khối RCEP), trong đó, Indonesia 19 vụ; Philippines 18 vụ; Malaysia 12 vụ, Thái Lan 10 vụ. Các ngành bị điều tra chủ yếu là thép, vải sợi, xi măng, gạch ốp lát, gạo, nhựa, giấy. Đối với thị trường Úc, quốc gia này đã khởi xướng điều tra 21 vụ việc với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam, mặt hàng thường bị điều tra như: thép, kim loại (nhôm, đồng); sản phẩm hóa chất, vật liệu xây dựng, thực phẩm chế biến…

Việc gia tăng các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam được chỉ rõ là các nước trong RCEP vừa là đối tượng bị điều tra, vừa là quốc gia khởi xướng điều tra phòng vệ thương mại ngày càng nhiều; tăng trưởng xuất khẩu mạnh của các nền kinh tế trong khu vực; xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng tại nhiều nền kinh tế; dịch chuyển chuỗi cung ứng sau đại dịch Covid-19 và căng thẳng địa chính trị; hiện tượng dư thừa công suất trong một số ngành…

Thích ứng với các chuẩn mực thương mại mới

Bà Nguyễn Hằng Nga đánh giá, nhận thức về phòng vệ thương mại của doanh nghiệp Việt Nam dần được nâng cao; nhiều doanh nghiệp xác định được điều tra phòng vệ thương mại là hoạt động bình thường trong thương mại quốc tế và chủ động xử lý, thành lập bộ phận chuyên trách về phòng vệ thương mại; hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại hiệu quả; kênh liên hệ với các luật sư trong nước và nước nhập khẩu đã được thiết lập; hệ thống Thương vụ hỗ trợ tích cực, hiệu quả.

Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do tính phức tạp trong quy định phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu; doanh nghiệp hạn chế về nguồn lực; cơ chế phối hợp do khối lượng công việc lớn, thời gian gấp. Đa số các doanh nghiệp có nhận thức và kinh nghiệm, chủ động xử lý vụ việc phòng vệ thương mại là các doanh nghiệp lớn nhưng vẫn còn chủ quan khi tham gia vụ việc; phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ còn bị động khi bị điều tra, ảnh hưởng đến kết quả.

Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực ứng phó với các quy định về phòng vệ thương mại. Ảnh: TTXVN

Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực ứng phó với các quy định về phòng vệ thương mại. Ảnh: TTXVN

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Luật sư Nguyễn Thanh Hà - Chủ tịch Công ty Luật SB LAW cho rằng, việc gia tăng các vụ điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt tại các thị trường lớn và có tính kiểm soát cao như Hoa Kỳ, EU, Ấn Độ, Úc và một số quốc gia trong ASEAN, phản ánh rõ ràng một thực tế phòng vệ thương mại đã trở thành công cụ phổ biến và có tính chiến lược trong chính sách thương mại của nhiều nước. Các quy định ngày càng chặt chẽ, yêu cầu chứng minh ngày càng phức tạp, thủ tục pháp lý đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chuyên sâu từ phía doanh nghiệp xuất khẩu.

Từ góc nhìn pháp lý, theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, đây vừa là một thách thức nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng là một lời cảnh tỉnh để doanh nghiệp chuyển mình, đầu tư bài bản hơn vào hệ thống quản trị, kiểm toán, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ pháp luật quốc tế. Trong một môi trường thương mại ngày càng tuân theo luật chơi chặt chẽ, năng lực pháp lý nội tại và sự chủ động trong ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại sẽ là yếu tố then chốt quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trên thị trường toàn cầu.

Đặc biệt, nhiều nước hiện nay đang gia tăng xu hướng bảo hộ thương mại dưới danh nghĩa phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Không ít biện pháp được áp dụng có xu hướng khắt khe, thiếu khách quan, gây khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng. “Toàn cầu hóa nhưng lại gia tăng các rào cản kỹ thuật và pháp lý, do đó, việc chuẩn bị tốt về mặt pháp lý, nâng cao hiểu biết và chủ động ứng phó với phòng vệ thương mại là điều bắt buộc nếu chúng ta muốn duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu”, theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động, xu hướng bảo hộ thương mại chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, việc tận dụng hiệu quả Hiệp định RCEP không chỉ là câu chuyện hưởng ưu đãi thuế quan mà còn là quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thích ứng với các chuẩn mực thương mại mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực. Vì vậy, đại diện Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị: doanh nghiệp cần tăng cường tìm hiểu quy định pháp luật, thực tiễn điều tra phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu; thiết lập kênh thông tin với các đối tác nhập khẩu, hiệp hội, ngành hàng để kịp thời cập nhật.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tăng cường cạnh tranh bằng chất lượng, hạn chế việc cạnh tranh bằng giá; nâng cao chuỗi giá trị của sản phẩm, tăng cường sử dụng các nguyên liệu được sản xuất trong nước hoặc từ các nguồn cung cấp không bị nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại; tăng tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam; triển khai hệ thống quản lý, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu rõ ràng, minh bạch; duy trì hệ thống sổ sách kế toán theo chuẩn quốc tế, lưu giữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ để chứng minh khi bị điều tra; đa dạng hóa thị trường, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới; không tiếp tay cho các hành vi gian lận xuất xứ, lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại…

Nhằm ứng phó điều tra phòng vệ thương mại, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng cần theo dõi hệ thống cảnh báo sớm thường xuyên; kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu chứng minh xuất xứ rõ ràng; thận trọng hơn trong hoạt động xuất khẩu, nếu thuộc danh mục mặt hàng bị cảnh báo; thận trọng khi xuất khẩu các mặt hàng thường xuyên bị điều tra phòng vệ thương mại...

Bảo Thoa
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật