Thị trường Halal toàn cầu đang mở rộng nhanh, không còn giới hạn trong lĩnh vực thực phẩm mà ngày càng hiện diện ở mỹ phẩm, du lịch, tài chính, logistics và nhiều dịch vụ khác. Với Việt Nam, đây là dư địa để mở rộng đầu ra cho nông sản, thực phẩm chế biến và những sản phẩm có lợi thế về nguồn nguyên liệu.
Tuy nhiên, từ một nguồn nguyên liệu có lợi thế đến sản phẩm đủ điều kiện bước vào thị trường Halal là một khoảng cách không nhỏ. Doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn, chứng nhận, nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, logistics và cả những quy định riêng của từng thị trường.
Tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tháng 9/2026 do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức sáng 23/9, những vấn đề này được nhìn nhận từ cả phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý, cho thấy bài toán phát triển Halal của Việt Nam đang chuyển dần từ nhận diện cơ hội sang nâng năng lực cung ứng.

Toàn cảnh Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tháng 9/2026.
Năng lực cung ứng chưa theo kịp nhu cầu
Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet, xuất khẩu hàng Halal của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu là nông sản và thủy sản thô. Trong khi đó, các sản phẩm chế biến sâu đáp ứng tiêu chuẩn riêng của từng thị trường còn khá hạn chế.
Sự khác biệt này xuất phát từ chính đặc điểm của sản phẩm chế biến. Nếu nông sản có nguồn gốc tự nhiên thường thuận lợi hơn trong việc đáp ứng những yêu cầu cơ bản của Halal, sản phẩm chế biến sâu phải kiểm soát nhiều hơn về thành phần, nguyên liệu và quy trình sản xuất.
“Điều chúng ta mong muốn là làm sao nâng cao năng lực cạnh tranh cho tất cả sản phẩm chế biến sâu và nhiều sản phẩm khác từ nguồn tài nguyên của Việt Nam để gia nhập thị trường xuất khẩu”, bà Thu chia sẻ.
Theo bà, trong khoảng hai năm trở lại đây, sự quan tâm của doanh nghiệp đối với thị trường Halal và việc chuẩn hóa sản phẩm đã tăng lên. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp thực sự có khả năng cung ứng sản phẩm Halal vẫn chưa phản ánh đầy đủ qua thống kê, do có doanh nghiệp chỉ sản xuất theo đơn hàng riêng, phục vụ một khách hàng hoặc một thị trường cụ thể.
Qua quá trình trực tiếp kết nối với khách hàng nước ngoài, bà Thu cho biết doanh nghiệp Việt Nam còn gặp khó trong việc tìm kiếm những sản phẩm chế biến sâu phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng thị trường. Nhu cầu có nhưng khả năng tập hợp nguồn cung đạt chuẩn chưa tương xứng.

Bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet.
Đây cũng là vấn đề được ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhìn nhận từ góc độ tiêu chuẩn và năng lực sản xuất.
Theo ông Ngọc, Việt Nam có nhiều lợi thế về nông, lâm, thủy sản, vị trí địa lý thuận lợi và đã xây dựng được hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu của nhiều thị trường lớn. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển sản phẩm Halal.
Song lợi thế về nguyên liệu chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm có thể đáp ứng ngay yêu cầu của mọi thị trường Halal. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal chưa thống nhất trên toàn cầu. Theo ông Ngọc, mỗi thị trường có thể đặt ra những yêu cầu riêng đối với sản phẩm cũng như tổ chức chứng nhận.
“Chúng ta có rất nhiều nước, mỗi nước lại có các chuẩn khác nhau. Chứng nhận của Indonesia chưa chắc khi xuất khẩu sang Malaysia đã được chấp nhận; được tiêu chuẩn Malaysia chưa chắc xuất khẩu sang GCC; được GCC rồi chưa chắc xuất khẩu được sang UAE”, ông Ngọc phân tích.
Sự khác biệt về tiêu chuẩn khiến doanh nghiệp phải xác định rõ thị trường mục tiêu ngay từ đầu để lựa chọn hệ thống chứng nhận phù hợp. Nếu doanh nghiệp muốn cùng một sản phẩm tiếp cận nhiều thị trường, chi phí và yêu cầu tuân thủ có thể tăng lên đáng kể.
Không chỉ yêu cầu đối với sản phẩm, một số thị trường còn đặt điều kiện đối với tổ chức chứng nhận. Theo ông Ngọc, có thị trường yêu cầu tổ chức chứng nhận của Việt Nam phải có đại diện tại nước sở tại. Chi phí duy trì đại diện, cùng yêu cầu về đánh giá và duy trì chứng nhận, tạo thêm áp lực đối với các doanh nghiệp và tổ chức chứng nhận trong nước.

Ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Từ thực tế này, ông Ngọc cho rằng việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, thúc đẩy công nhận lẫn nhau giữa các hệ thống chứng nhận là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giảm chi phí và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Không chỉ riêng chứng nhận, chuỗi cung ứng nguyên liệu cũng cần được kiểm soát xuyên suốt. Với sản phẩm chế biến sâu, yêu cầu Halal không dừng ở nguyên liệu chính mà còn liên quan đến các thành phần phụ, hương liệu và những nguyên liệu có nguồn gốc đặc thù.
Nếu một mắt xích không đáp ứng yêu cầu, sản phẩm cuối cùng cũng khó đạt tiêu chuẩn. Đây là lý do Việt Nam cần hình thành hệ thống cung ứng nguyên liệu Halal ổn định thay vì chỉ tập trung vào khâu chứng nhận sản phẩm cuối cùng.
Liên kết để hình thành hệ sinh thái Halal
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Thu cho rằng ba vấn đề nổi bật hiện nay gồm tiêu chuẩn và chứng nhận, chuỗi cung ứng cùng hạ tầng logistics Halal và thiếu thông tin thị trường. Trong đó, thông tin về từng thị trường có ý nghĩa trực tiếp đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần biết thị trường nào có nhu cầu, yêu cầu chứng nhận ra sao, sản phẩm nào có khả năng tiếp cận và những rủi ro nào cần chuẩn bị trước.
Bà Thu cũng cho rằng phát triển Halal không chỉ phục vụ xuất khẩu. Nhu cầu trong nước đang xuất hiện rõ hơn từ hệ thống khách sạn, nhà hàng và khu du lịch phục vụ khách quốc tế theo đạo Hồi. Việc hình thành nguồn cung đạt chuẩn tại Việt Nam vì thế có thể vừa phục vụ thị trường nội địa, vừa tạo nền tảng cho xuất khẩu.
“Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc liên kết với những hệ thống sản phẩm có sẵn hoàn toàn có thể gia nhập thị trường này. Chúng ta cùng nhau xây dựng một hệ sinh thái thì chắc chắn sẽ thay đổi được rất nhiều”, bà Thu đề xuất.
Cùng với liên kết doanh nghiệp, các cơ quan quản lý và hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài được kỳ vọng tăng cường cung cấp thông tin, hỗ trợ kết nối và thúc đẩy công nhận tiêu chuẩn giữa các thị trường.
Theo ông Ngọc, trách nhiệm trước hết vẫn thuộc về doanh nghiệp trong việc lựa chọn thị trường, nắm rõ yêu cầu và tổ chức sản xuất phù hợp. Các cơ quan quản lý và đơn vị hỗ trợ có vai trò hướng dẫn, cung cấp thông tin, kết nối và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực.
Việc phát triển ngành Halal vì vậy không chỉ là câu chuyện tìm thêm một thị trường xuất khẩu. Đây còn là quá trình nâng cấp chất lượng sản xuất, chuẩn hóa nguyên liệu, hoàn thiện chuỗi cung ứng và tăng khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Khi các khâu từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chứng nhận, logistics đến kết nối thị trường được tổ chức thành một chuỗi, lợi thế về nông sản và năng lực sản xuất của Việt Nam mới có thể chuyển hóa thành năng lực cung ứng Halal ổn định, tạo thêm dư địa cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tháng 9/2026 được Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tổ chức ngày 23/9/2026 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Với chủ đề “Halal Việt Nam: Nhận diện năng lực cung ứng, nhu cầu thị trường và cơ chế phối hợp để thúc đẩy xuất khẩu”, hội nghị tập trung trao đổi về nhu cầu thị trường Halal, năng lực cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam, yêu cầu tiêu chuẩn, chứng nhận và giải pháp tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, Thương vụ, tổ chức xúc tiến và doanh nghiệp.


